Vị thuốc tuyệt vời từ Tam Thất

By | October 12, 2015

tam-that-giaoduc.net.vn

Củ Tam thất, cây tam thất, còn được gọi là tam thất bắc, tam thất nam, sâm tam thất, điền thất nhân sâm, kim bất hoán, Panax pseudoginseng, tam thất gừng, khương tam thất, ngải năm ông, thổ tam thất, bạch truật nam, cúc tam thất, vũ diệp tam thất, tam thất hoang, Stahlianthus thorelii, zingiber ginseng, họ nhân sâm, Araliaceae,họ cuồng cuồng, họ gừng, Zingiberaceae.

Là vị thuốc quý rất tuyệt vời, đặc biệt là đối với phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. Tam thất có 2 loại là Tam thất bắc (sâm tam thất, điền thất nhân sâm, kim bất hoán, Panax pseudoginseng) và Tam thất nam (tam thất gừng, khương tam thất, ngải năm ông, Stahlianthus thorelii).

Những thành phần hóa học tam thất có các axít amin và các nguyên tố Fe, Ca và đặc biệt là 2 chất saponin: Arasaponin A, arasaponin B…

Những công năng

Đông y cho rằng, tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào kinh, Can, Vị, Tâm, Phế, Đại tràng, có tác dụng hóa ứ, tư bổ, trong thời gian dùng tam thất để cầm máu,  thì tuyệt đối không được sử dụng gừng, tỏi cũng như chế phẩm có chứa gừng, tỏi. Công dụng tiêu thũng, giảm đau, bổ khí huyết dùng chữa tất cả các chứng xuất huyết, ngã đau sưng bầm tím, đau tức ngực, u bướu, huyết ứ, bế kinh, thống kinh,  hậu  sản huyết hư gây đau bụng, các loại u nhọt sưng đau, khí huyết lưỡng hư, tức ngực…

Lưu ý: Phụ nữ có thai cần cẩn thận khi dùng; người máu nóng không  nên dùng.

Tam thất có tác dụng dược lý như bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp đập tim. Chất noto ginsenosid trong tam thất có tác dụng giãn mạch, chống lại xơ vữa động mạch, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu oxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Giúp ức chế khả năng thẩm thấu của mao mạch; hạn chế các tổn thương tại vỏ não do thiếu máu gây ra.

1421679706_tam-that

 Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng được dùng trong các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ (do phẫu thuật, va đập gây bầm tím phần mềm). Kích thích miễn dịch.  Tam thất có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết từ lá tam thất lại có tác dụng ngược lại như kéo dài tác dụng của thuốc an thần.

Những chiết xuất của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt. Tam thất có tác dụng giúp  tuần hoàn máu, giảm lượng cholesterol trong máu, hạ đường huyết, kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, chống viêm tấy giảm đau…; được dùng trong với trường hợp huyết áp cao, viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, tiểu  đường, các chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau, loét dạ dày tá tràng, chống nhiễm khuẩn trước và sau phẫu thuật để chóng lành vết thương,  kém trí nhớ, ăn uống kém, ra mồ hôi trộm, làm việc quá sức.

Các phương thuốc sử dụng củ tam thất

Trị nôn ra máu: Gà 1 con làm sạch lông, bỏ lòng. Tam thất bột 5g. Nước ngó sen 1 cốc (200ml). Rượu ngon lâu năm nửa chén (15ml). Hầm cách thủy để ăn, cách một ngày ăn 1 lần, đến khi khỏi.

Trị ho ra máu, chảy máu cam, đi ngoài, đi tiểu ra máu: Đá hoa 12g (nung). Tam thất 10g.  Tóc rối đốt tồn tính 4g. Tán bột chia làm 2 lần uống với nước đun sôi sẽ khỏi.

 Đại tràng bị xuất huyết: Tam thất bột 8g. Rượu trắng nhẹ 20 độ vừa đủ trộn với bột. Uống ngày 2 lần với Tứ vật thang (thục địa chế rượu 10g, bạch thược 10g, đương quy tẩm rượu sao 10g, xuyên khung 10g). Uống khoảng 3 – 4 lần sẽ khỏi.

Bị loét hành tá tràng và dạ dày: Tam thất bột 12g, bạch cập 9g, mai mực 3g. Nghiền bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g uống từ 15 – 21 ngày.

Kiệt lỵ ra máu: Bột tam thất 12g. Nước từ gạo nếp vừa đủ. Uống từ 2 – 3 ngày sẽ đỡ.

Xích bạch đới: Bột tam thất 5g uống với 15ml rượu trắng nóng.

Đau bụng kinh: Bột tam thất 5g.  Trước khi hành kinh 3 ngày  đem uống cho tới khi có kinh, nếu hết đau bụng thì ngừng. Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5g bột tam thất, uống 1 lần cùng với cháo loãng hoặc nước ấm.

cutamthat24

Phụ nữ sau khi sinh mất máu nhiều: Dung bột tam thất 6g hòa với nước cháo uống trong ngày.

Phòng và trị đau thắt ngực: Ngày uống 3 – 6g bột tam thất (1 lần), dùng với nước còn ấm. Đau thắt ở ngực do bệnh mạch vành: Tam thất 20g, đan sâm 20g sắc kỹ uống hoặc lấy nước nấu cháo. Ăn liên tục trong vài tháng.

Chứng thấp tim: Ngày uống 3g bột tam thất, chia 3 lần (cách nhau 6 – 8 giờ), kết hợp với nước ấm. Dùng trong 30 ngày. Hay bột tam thất 1g, uống ngày 2 – 3 lần; làm chậm chu trình phát triển của bệnh.

Phần mềm bầm tím do tổn thương: Bột tam thất một ít, dấm gạo vừa đủ, trộn đều với nhau dùng đắp lên vết thương. Nếu vết thương bị loét thì rắc trực tiếp bột tam thất lên sẽ lành.

Có vết thương kín trong nội tạng: Bột tam thất 15g. Cua đồng sống 1 con. Làm sạch cua, giã nát, trộn đều, uống với rượu nóng. Cứ 2 ngày 1 lần tới khi hết đau.

Đàn ông bị viêm tiền liệt tuyến: Tam thất sống 3g. Nhai rồi nuốt hàng ngày vào buổi sáng sớm.

Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả máu ứ trong mắt): Ngày uống 3 lần bột tam thất, mỗi lần từ 2 – 3g, cách nhau 6 – 8 giờ, chiêu với nước ấm.

Trị chứng đau thắt lưng: Bột tam thất cùng bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều lên, ngày uống 4g, chia 2 lần (cách nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm.

Viêm tĩnh mạch nông: Uống bột tam thất  cứ 2 lần/ngày, mỗi lần 2g.

Bổ dưỡng: Thiếu máu gây chóng mặt: Tam thất 3g, chim bồ câu 1 con. Hấp cách thủy để ăn hàng ngày.

Trị chứng bạch cầu cấp và mạn tính: Đương quy 15 – 30g, xuyên khung 15 – 30g, xích thược 15 – 20g, hồng hoa 8 – 10g, tam thất 6g, sắc kỹ chia 2 lần uống,  ngày 1 thang.

Khi sử dụng chữa trị bệnh từ tam thất cần chọn củ tam thất có hình giống như con ốc đá hay hình trụ,  những người có kinh nghiệm cho biết củ nào giống ốc đá, màu xám xanh hơi đen hoặc nâu, bóng sáng là tốt nhất. Bên ngoài củ tam thất thường có vết bám vàng ngang hay vết lõm và có cả những lằn dọc không liên tục nữa. Đó là dấu vết của thân cây hàng năm chết đi để lại. Cây càng nhiều mấu thì tuổi càng nhiều là vậy. Thịt củ tam thất rất cứng, khó có thể bẻ bằng tay. Nếu dùng vật nặng đập vỡ thì vỏ và lõi thường tách rời nhau. Mặt cắt cũ có màu xám hơi xanh hoặc vàng đất hoại xám trắng.  Các phiến tam thất có màu xám xanh hay xám nâu, mịn chắc không nứt là tốt. Tuy nhiên, cũng như sâm, tam thất già là tốt nhưng quá già thì có thể  là không tốt vì với tam thất, củ nằm dưới đất quá lâu thì lại hay bị xơ. Cho nên thu hoạch tam thất từ 4 – 6 tuổi, ở thời gian này, tam thất có chất lượng tốt hơn cả.